|
Ḍng Truyền Thừa Sakya
Sakya
có nghiă là
Đất Màu
Xám...
Ngài Sakya Trizin đời thứ 41 hiện là Pháp Vương nắm giữ ḍng
truyền thừa...
Những giáo huấn của
các ḍng Kadampa, Kagyu
và Sakya (thế kỷ 11) và
Gelug (thế kỷ 14)
đều được xem như là thuộc
Tân Phái Dịch Thuật (New Translation School)
trong khi những giáo huấn của ḍng
Nyingma (thế
kỷ 8-9) thuộc về Cựu Phái Dịch Thuật
(Old Translation School).
Quư Tộc
Họ Khon và Khon Lui Wangpo Sunga
Từ thế kỷ tứ 8 đến
nay, ḍng họ Khon nổi danh là ḍng dơi quư tộc ở miền
Nam xứ Tây Tạng. Trong gia tộc họ Khon,
Khon Lui Wangpo Sunga là
một trong bảy người Tây Tạng đầu tiên đă đuợc thọ giới
tỳ kheo dưới triều đại của vua Trisong Detsen và đă tu tập
miên mật dưới sự hướng dẫn của đại đạo sư Liên Hoa Sanh. Cả
ḍng họ Khon đều là những đại thí chủ và hành giả theo
truyền thống Nyingma tại vùng Tsang.
Đến thế kỷ thứ 11, truyền thống Nyingma tại vùng Tsang gặp
nhiều biến thoái. Vị trưởng gia tộc họ Khon lúc bấy giờ,
Khon Konchog Gyalpo, đă
quyết định đi tầm thầy học đạo và đă có duyên hội ngộ với
các vị Drogmi, Bari và
Mal.
Drogmi và Những Giáo Huấn Của Đại Thành Tựu Giả Virupa
Ngài Drogmi là một một
dịch giả và hành giả danh tiếng đă tu học suốt
mười tám năm tại Ấn Độ với đại học giả
Shantipa tại đại học
viện Vikramashila.
Một trong những giáo huấn quan trọng nhất mà ngài Drogmi đă
thọ nhận và đă truyền lại cho vị trưởng tộc
Khon Konchong Gyalpo chính là các giáo huấn của
Mật Điển Hô Kim Cương (Hevajra
Tantra) và giáo huấn Lamdré - Đạo
và Quả.
Trải qua nhiều thế hệ truyền thừa, ngài Shantipa đă thọ
nhận những giáo huấn về Hô Kim Cương và Lamdré từ đại
thành tựu giả Virupa, là
một trong 84 vị đại thành tựu giả du già lừng danh nhất xứ
Ấn. Ngài Virupa đă sống gần suốt cuộc đời ḿnh ở tại
đại học viện Nalanda,
ban ngày giảng dạy về hiển giáo và các giáo huấn của truyền
thống Nguyên Thuỷ và
Đại Thừa, nhưng ban đêm
ngài bỏ giấc ngủ hằng đêm để tu tập theo các pháp tu của
Mật Thừa, nhất là tŕ
tụng mật chú của vị Hộ Phật
Vajravarahi (Tib. Dorje Phagmo). Đến năm ngài 71 tuổi th́ Virupa mới
đạt được những chứng đắc viên măn;
ngài lang thang khắp nơi
như một hành giả du già và bắt đầu giảng dạy về các giáo
huấn của Hô Kim Cương và Lamdré.
Giáo Huấn Lamdré - Đạo và Quả
Lam có nghĩa là
con đường và
dré có nghĩa là kết quả.
Lamdré, theo nghĩa đó có nghĩa là
Đạo và Quả. Con
đường ở đây bao gồm tất cả những
pháp tu mà hành giả cần miên mật hành tŕ để đưa
hành giả đến giác ngộ, và quả ở đây chính là
Phật quả, là trạng thái
chứng đắc vô ngă, đạt đến giác ngộ tối thượng.
Lamdré dựa trên hệ giảng của
Hô Kim Cương Chánh Văn Mật Điển
(Hevajra Root Tantra) và được chia ra làm hai phần:
(1) Phần thứ nhất bao gồm ba giáo huấn về
tri kiến (Three Visions)
và các giáo huấn thông thường thuộc về
hiển giáo dành cho tất cả đại chúng, gồm có
các khế kinh, các giáo
huấn về Vi Diệu Pháp (Abhidharma),
về giới luật, cùng với
các giáo lư của Đại Thừa.
1) Phần thứ hai bao gồm ba giáo huấn thuộc về
mật giáo, gồm có các pháp tu thuộc
Nhân Mật Điển (Casual
Tantra), Đạo Mật Điển
(Path Tantra) và Quả Mật Điển
(Result or Fruition Tantra). Quả ở đây chính là trạng
thái chứng đắc Đại Thủ Ấn
(Mahamudra) tối thượng; khi ấy, kiến của hành giả trở nên
kiến thuần tịnh, hành
giả nh́n thấy tất cả chúng sinh đều là Phật, và Sinh Tử và
Niết Bàn hoàn toàn không khác biệt.
Tổ Khon
Konchog Gyalpo và tu viện Sakya đầu tiên
Hết ḷng tin tưởng và
tu tập theo giáo huấn truyền thừa từ Virupa và
Drogmi Lotsawa, vị tộc trưởng
Khon Konchog Gyalpo đă
cho xây dựng tu viện đầu tiên của ḍng
Sakya vào năm 1073 tại một
vùng đất ở Tsang. Người ta gọi vùng đất ấy là
Sakya, có nghĩa là "đất màu xám"
(grey earth). Do đó mà ḍng truyền thừa Sakya
mới mang danh hiệu là ḍng truyền thừa ở vùng đất xám -- cái
tên "Đất Xám" ấy đă gắn liền với những nổi trôi trong
quá tŕnh lịch sử của ḍng Sakya qua suốt bao thế kỷ cho đến ngày hôm nay.
Ngoài ra, ḍng Sakya c̣n có
thêm ba chi phái nữa là các chi phái
Ngor, Tsar
và Dzongpa
do các vị đạo sư Ngorchen Kunga
Zangpo (1382-1457),
Tsarchen Losel Gyatso (1502-1556), và
Dzongpa Kuna Namgyal
(1432-1496) khai lập.
Năm
Vị Đại Trưởng Lăo Sakyapa
Trong lịch sử ḍng
truyền thừa Sakya, có tất cả năm vị
đại trưởng lăo Sakyapa là những vị đạo sư đă đóng
một vai tṛ cực kỳ quan trọng trong công cuộc hoằng dương
Phật Pháp, bảo tồn và phát triển những giáo huấn quư báu mà
ngài Virupa và Sơ Tổ
Drogmi đă truyền giảng.
Năm vị đại trưởn lăo Sakyapa đó là:
Ï
Sachen Kunga Nyingpo
(1092-1158)
Trưởng lăo Sachen Kunga Nyingpo là con trai của ngài
Khon Konchog Gyalpo. Qua
rất nhiều nỗ lực của ngài mà hằng trăm pho kinh thuộc về
hiển giáo và mật giáo đă được
chuyển dịch qua Tạng ngữ, kể cả những tài liệu
thuyết giảng khẩu truyền cũng đă được sưu tập và ghi chép
lại, dùng làm tài liệu tu tập của ḍng Sakya sau này.Một lần
nọ, ngài Sachen Kunga Nyingpo cũng đă có linh kiến của đức
Văn Thù Sư Lợi và đă
trực tiếp thọ giáo với ngài về giáo huấn có tên là
"Xa Lià Bốn Tham Ái"
(Parting from Four Attachments).
Ï
Lobpon Sonam Tsemo
(1142-1182)
Trưởng lăo Lobpon Sonam Tsemo
là đệ tử của ngài
Chapa Chökyi Sengé
(1109-1169). Ngài Chapa Chokyi Sengé tu tập theo phái
Svatantrika là một tiểu
phái dựa trên các triết lư về Trung
Quán Luận (Madhyamika) của ngài
Long Thọ (Nargajuna).
Ngài và đă trước tác một luận giải rất nổi tiếng về
Hành Bồ Đề Tâm Luận (Bodhiaryavatara).
Ï
Jetsun Dakpa Gyaltsen
(1174-1216)
Trưởng lăo Jetsun Dakpa Gyaltsen là con trai của ngài
Sachen Kunga Nyingpo và là em trai của Lobpon Sonam Tsemo.
Ngài là người đă trước tác một tài liệu luận giảng rất nổi
tiếng về giáo huấn "Xa Lià Bốn Tham
Ái" mà cha của ngài, ngài Sachen Kunga Nyingpo,
đă được đức Văn Thù truyền dạy trong một linh kiến trong khi
tham thiền.
Ï
Sakya Pandita
(1182-1251)
Trưởng lăo Sakya Pandita là cháu trai của ngài Jetsun
Dakpa Gyaltsen, chú của ngài Chogyal Phakpa, và là một trong
những vị đại học giả lỗi lạc
nhất trong lịch sử Tây Tạng. Người Tây Tạng tin rằng,
đức Văn Thù đă ứng thân
trong ba vị đạo sư và học giả lỗi lạc của Tây Tạng, gồm có
các ngài Longchen Rabjam,
Sakya Pandita va
Tsongkhapa. Danh tiếng và
tài năng của ngài Sakya Pandita vang lừng khắp nơi, qua đến
tận Trung Hoa và
Mông Cổ. Vào năm 1249, ngài
được triều đ́nh Mông Cổ tấn phong làm
Tổng Trấn (viceroy) xứ Tây Tạng.
Ï
Chogyal Phakpa
(1235-1280)
Trưởng lăo Chogyal Phakpa là cháu trai của ngài Sakya
Pandita. Vào thời đại của ngài, ḍng truyền thừa Sakya nắm
giữ quyền bính tại Tây Tạng và ngài Phakpa cũng được Mông Cổ
phong làm Tổng Trấn. Đây
là thời đại huy hoàng nhất của Sakya và
Phật Giáo Tây Tạng đă
được truyền bá qua Trung Hoa
và Mông Cổ.
Ï
Phần
giới thiệu được biên soạn dựa trên tài liệu tham khảo.
|
|